SỐT XUẤT HUYẾT
Bệnh sốt xuất huyết (còn gọi là bệnh lưu hành tinh xuất huyết).
Bệnh sốt xuất huyết này thuộc phạm vi lây lan và cấp tính, nhiều khi phát trong một phạm vi rộng rãi. Chủ yếu bệnh phát từ tháng 10-12 kéo dài đến 20 tháng 6 dương lịch là hết, sau thời gian ấy, nếu ốm thì gọi là bệnh thử, nghĩa là cảm nhiễm trước thời gian ngày 20 tháng 6 gọi là bệnh sốt xuất huyết, cảm nhiễm sau đó gọi là bệnh thử.
* Triệu chứng bệnh rất phức tạp.
+ Nguyên nhân:
Bệnh này có đặc tính lây lan, ngoài khí hậu thời tiết còn có lây lan qua động vật. Lúc nhiệt vào vinh huyết làm cho khí huyết đều hư, hạ huyết áp, đó là do thấp độc nung nấu phần âm; chính khí hư gây nên tà thịnh.
Mới phát bắt đầu sốt, trên người có những nốt đỏ, gọi là sốt phát ban, đi đái ít là lúc độc tà mạnh, chân âm bị đốt. Đi đái nhiệt là thần không khoẻ.
– Bệnh phát ra chia 3 thời kỳ khác nhau.
1) Bệnh mới phát gọi là tân cảm, phát sốt do cảm phải độc tà Theo Đông y thì sốt nhiều là do dương tà. Đặc trưng của bệnh tà truyền vào lý vào khí phận làm nhiệt uất khí cơ và bệnh đã thuộc Dương minh nên nhiệt mạnh sốt cao mà không sợ lạnh, đổ mồ hôi thở dốc, miệng khát, buồn bực, muốn nôn. Nếu xem mạch thì thấy hồng đại mà sác, rêu lưỡi vàng.
2) Xuất huyết: Thời kỳ này xuất huyết, ngoài nốt ban ngoài da còn thổ huyết, nục huyết (chảy máu cam) và đi tiêu đi ỉa ra máu. Bệnh đã vào lý chủ yếu lúc này là do ôn tà xâm nhập Dương minh làm tổn thương kinh lạc bức huyết chạy lung tung. Cần phân biệt màu sắc phát ban mà nhận định nhiễm độc nặng hay nhẹ; thấy sắc mặt tươi thuận là bệnh nhẹ, nếu sắc mặt đen xám là nặng.
3) Khi hạ huyết áp, tay chân lạnh ngắt và chia ra 2 loại nhiệt quyết và hàn quyết. Biểu hiện quyết nghịch là nói tay chân lạnh ngắt như nói ở trên. Lúc đầu ôn tà xâm nhập, khí âm bị tổn thương, chính khí chưa suy thì nhiệt tà bế lại thành nhiệt quyết.
Lúc này bệnh nhân bên ngoài chân tay lạnh nhưng bên trong là nhiệt, vì thế bệnh nhân sợ nhiệt mà không sợ lạnh, người ra mồ hôi mà vẫn sốt, miệng khát, buồn bực đại tiện bí, tiểu tiện đỏ. Lúc đầu mới, ôn tà nung nấu lâu nên âm khí tổn thương, dương khí suy kém thì thành hàn quyết, biểu hiện là chân tay lạnh mà sợ lạnh, mặt và môi xanh nhợt, mạch đi trầm trì, có thể dẫn tới tử vong.
– Biện pháp điểu trị:
Cần phân biệt diễn biến của bệnh mà điều trị khác nhau, không một thể thống nhất.
1) Nếu phát sốt sợ lạnh, đau đầu, toàn thân ê ẩm, lưỡi đỏ rêu mỏng, cách chữa, cần sơ biểu thanh nhiệt, cần cho uống các vị như sau:
Lá dâu khô 12g (nếu tươi thì gấp đôi lên), Cúc hoa 12g, Kim ngân hoa 12g, Liên kiều 12g, Cát cánh 12g, Bạc hà 6g và rẽ cỏ Lau tươi 12g (không có tươi dùng khô), sắc với 2 bát lấy còn nửa bát, cho uống lúc ấm, sắc tiếp nước thứ hai cho uống sau 2 giờ.
Nếu sợ lạnh thì gia Hành trắng 8g, Đậu cổ 12g, nhìn thấy lưỡi trắng nứt gia Hoắc hương 12g, Phong lan 12g. Nếu sốt cao gia Hoàng cầm 12g, Chi tử 12g, khát nước buồn bực gia Mạch môn 12g, nôn mửa gia Trúc nhự 8g (tức tinh cây tre).
2)Nếu sốt cao, sợ lạnh, buồn bực không sợ lạnh, ra mồ hôi thở dốc, rạo rực; buồn nôn, mắt mờ, tai ù, lưỡi vàng. Sách Đông y gọi là nhiệt đốt Dương minh, cách chữa cần thanh nhiệt đuổi tà, dùng bài thuốc có các vị như sau:
Kim ngân hoa 12g, Cúc hoa 12g, Liên kiều 12g, Tri mẫu 4g, lá tre 12g, Mạch môn 12g, Hoàng cám 12g, Thiên hoa phấn 12g. Thạch cao sống 40g, Cam thảo 4g, sắc uống như bài trên.
3)Sốt cao khát nước, buồn bực không yên, mắt mờ, da xuất huyết phát ban đỏ hoặc thổ huyết, nục huyết miệng khô, lưỡi đỏ có gai. Đông y cho là khí huyết đều bị nung đốt, cách chữa cần thanh khí huyết, dùng bài thuốc có vị sau đây:
Sừng trâu 40g thái rất nhỏ, Thạch cao 40g (để sống), Sinh địa 12g, Tri mẫu 12g, Huyền sâm 12g, Kim ngân hoa 12g, Liên kiều 12g, Đan bì 12g, Cam thảo 4g.
Nếu sốt cao phát ban màu thâm tím, thổ huyết, nục huyết thì gia Đại thanh diệp 12g, Tử thảo 8g, Hoàng liên 4g, Hoàng cầm 8g, Chỉ tử 12g, sắc uống như bài trên.
Ngoài bài thuốc kê trên, có thể đơn giản dùng các vị Đại thanh diệp, Bản lam căn mỗi thứ 40g sắc uống lúc đang sốt cao.
Hoặc dùng Mã lan, cỏ chân vịt mỗi vị đều 80g, nấu với 2 bát nước, lấy còn 1 bát uống hơi nóng lúc sốt cao, xuất huyết, và tim suy.
Hoặc dùng cỏ Chân dê 20g, sắc với 2 bát nước lấy còn một bát chia uống 3 lần, cách nhau 1 giờ một lần để chỉ huyết.
Hoặc dùng Lá sen cạn 100g, gia vắt lấy nước đun sôi uống lúc ấm để chỉ huyết.
4) Chữa hạ huyết áp: Nếu thấy tay chân lạnh, vùng ngực bụng nóng, không sợ lạnh mà sợ nóng, khát nước, đại tiện bí, tiểu tiện vàng, buồn bực không yên, ra mồ hôi mà sốt không lui, sách Đông y quy là Nhiệt quyết, cách chữa cần thanh nhiệt phù chính khử tà, dùng bài thuốc sau đây:
Nhân sâm 12g, Thạch cao sống 40g. Tri mẫu 12g, gạo nếp 40g, Cam thảo 4g, Xương bồ 12g, sắc uống như các bài trên. Nếu thấy hôn mê dùng An cung ngưu hoàng thành phẩm có bán ở các hiệu thuốc ở phố Lãn ông, uống mỗi lần 1-2 viên, cách nhau 1 giờ cho uống một lần với nước hơi nóng.
Nếu không có An cung ngưu hoàng thì dùng Tử tuyết tán thành phẩm cùng có bán ở hiệu thuốc phố Lãn ông – Hà nội, cho uống mỗi lần 2g đến 4g với nước sôi để nguội.
Comments
Post a Comment