TRỊ SỎI MẬT TỪ ĐÔNG Y


TRỊ SỎI MẬT TỪ ĐÔNG Y
Sỏi mật là sỏi nằm trong túi mật. Khi sỏi chuyển động thì gây đau. Mức độ đau phụ thuộc vào kích thước và vị trí của sỏi.
Dưới đây xin giới thiệu một số bài thuốc hữu hiệu, bạn đọc có thể tham khảo và áp dụng khi cần.
Viêm túi mật do sỏi, bệnh nhân có sốt, đau vùng hạ sườn phải, sự tiết mật bị trì trệ, phân bạc màu, rối liệu tiêu hóa, da sạm.
Bài 1: Hạ liên châu 16g, nhân trần 16g, đại hoàng 6g, chỉ xác 8g, đan bì 10g, chi tử 10g, bạch thược 12g, đương quy 12g, trinh nữ 16g, râu ngô 16g. Ngày 1 thang, sắc 3 lần, uống 3 lần. Công dụng: chống viêm, tăng tiết dịch mật, bài thạch.
Bài 2: Lá và cây cối xay 20g, kim tiền thảo 20g, lá tre 12g, hương nhu trắng 12g, xấu hổ 20g, chỉ xác 10g, trần bì 10g, đinh lăng 20g, biển súc 16g, đại hoàng 6g, đương quy 12g, thục địa 12g, hoàng kỳ 12g, cam thảo 12g. Ngày 1 thang, sắc 3 lần, uống 3 lần. Công dụng: chống viêm, thông mật, bài thạch, giảm đau.
Trường hợp sỏi làm tắc ống dẫn mật, gây ứ mật, đau đớn dữ dội, da vàng, tiểu vàng, bệnh nhân đau tăng, nằm ở tư thế “cò súng”.
Bài 1: Lá đinh lăng 30g, nhân trần 30g, chỉ xác 20g, trần bì 20g, cát căn 16g, rễ xấu hổ 20g. Đổ nước 2 bát, sắc còn 1 bát, chia uống 2 lần, cách nhau 20 phút.
Bài 2: Kê nội kim (sao vàng) 12g, thài lài tía 20g, đinh lăng 20g, rễ bí đỏ 20g, bạch mao căn 20g, kim tiền thảo 30g, nhân trần 16g, chi tử 10g, chỉ xác 12g, trần bì 12g. Đổ nước 3 bát, sắc còn 1 bát, chia uống 2 lần, uống trong ngày.
Bài 3 (trà dược): Kim tiền thảo, nhân trần, lá đinh lăng, hương nhu trắng, bạch mao căn, cỏ mần trầu, rau má mỗi vị 200g. Các vị rửa sạch, cắt ngắn phơi khô, trộn đều, bảo quản cho thật tốt, tránh mốc, tránh ẩm. Ngày dùng 30 – 40g hãm với nước sôi vào ấm tích, sau 10 phút là có thể dùng được. Uống dần trong ngày, trà này dùng thường xuyên có tác dụng chống viêm, bài thạch, lợi mật, lợi gan. Bệnh nhân có tiền sử sỏi mật, viêm ống dẫn mật, thiểu năng gan, gan nhiễm mỡ nên dùng.
Theo SKĐS
CHỮA SỎI THẬN VÀ SỎI MẬT VÀ SỎI BÀNG QUANG
Dược Liệu:
1. Sa Tiền Tử: 20g
2. Lá Bầu Tươi: 50g
3. Kim Tiền Thảo: 30g
4. Quả Sung Khô: 20g
5. Dâu Ngô: 40g
6. Hạt Chuối Hột: 30g
7. Hải Kim Sa: 20g
8. Dâu Mèo: 20g
9. Uất Kim: 15g
10. Cù Mạch: 10g
11. Đại Hoàng: 10g
12. Hoàng cầm: 12g
13. Rau Ngổ Khô: 30g
Cách Dùng: Bạn tìm đủ 13 Vị thuốc trên. Bạn sắc đun cùng 1 Lít nước uống, thay nước hàng ngày. Hoặc mỗi 1 ngày 1 thang.
CÂY NGỌA TÙNG- CHỮA SỎI THẬN Ngọa tùng còn gọi là Tùng sà,Thủy tùng(khác với cây thủy tùng gọi là thông nước có nhiều ở Dalat) từ lâu được dùng làm cây hoa kiểng vì cây có lá và thân hình đẹp.
Trong 1 dịp tình cờ tôi có nghe một người nói là có thể dùng làm thuốc trị bệnhsạnthận.Sau 1 thời gian nghiên cứu thử nghiệm tôi đã áp dụng thành công với việc kết hợpNgọatùng và cây Râu mèo đểchữasạnthậnrất hiệu quả.
Cách dùng như sau :
-Ngọatùng dùng cả cành lá thái khúc,phơi khô,sao lấy thổ(tức là khi thuốc khô đem rang nhỏ lữa đến khi thuốc vừa vàng đổ xuống đất dùng thau úp lại)
-cây Râu mèo cũng thái khúc phơi khô(không cần sao lấy thổ) hoặc có thể mua dễ dàng ở các tiệm thuốc đông dược.
+Mỗi ngày dùng mỗi loại 1 nắm lớn cho nước vào sắc uống hoặc nấu nước uống thay nước lạnh mỗi ngày
+Uống liên tục từ 7 ngày trở lên đi xét nghiệm ,kiểm tra kết quả.
+Trong lúc dùng thuốc cần ăn uống nhiều loại thực phẩm lợi tiểu và mát như: rau
má, nước dừa,rễ tranh…để mang lai kết quả tốt nhất.
Bài thuốc đã áp dụng thành công trên nhiều người trong thời gian dùng thuốc từ 7-30 ngày mà không cần dùng thuốc gì khác,hiệu quả nhất là dạng sỏi từ 10mm trở lại.
NHỮNG TRIỆU CHỨNG BÁO TRƯỚC BỊ LIỆT 1/2 NGƯỜI
( BÁN THÂN BẤT TOẠI) VÀ MỘT SỐ BÀI THUỐC CHỮA
Cụ Vương Thanh Nhậm một Danh y có tiếng đời nhà Thanh, cụ sinh năm 1768 mất năm 1831, còn có tên là Toàn Nhậm, tên tự là Huân Thần, người trấn Trực lệ, huyện Ngọc điền, tỉnh Hà bắc Trung Quốc cụ để lại cho đời sau cuốn Y LÂM CẢI THÁC (cải chính những sai lầm của nghề y ) là 1 trong số các bộ y thư rất nổi tiếng, trong tác phẩm của mình cụ đã chỉ ra nhiều những thiếu sót và sai lầm mang tính giáo điều, chủ quan, thiếu thực tế của các sách vở tài liệu y học cổ đại.
Trong phần bàn đến bệnh BÁN THÂN BẤT TOẠI cụ đã chỉ ra một số triệu chứng báo trước. Tôi xin mạn phép cụ chép ra đây để mọi người cùng tham khảo;
" Có người hỏi: Sau khi nguyên khí đã suy, nhưng chưa đến nỗi bị bệnh bán thân bất toại, thì người bệnh có biểu hiện gì về hư chứng ra bên ngoài không?
Tôi (Vương thanh Nhậm) trả lời rằng: Tôi hàng ngày chữa bệnh này rất nhiều, cho nên hiểu bệnh này rất là rõ ràng. Mỗi khi chữa bệnh này, sau khi bệnh nhân đã khỏi thì hỏi bệnh nhân xem những triệu chứng trước khi họ bị bệnh thế nào, thì thấy rằng có rất nhiều hiện tượng báo trước, tôi sẽ kê ra một số hiện tượng sau đây:
- Có người trả lời rằng đôi khi họ thấy trên đầu choáng váng xây xẩm mặt mày
- Có người thì trả lời họ vô cớ thấy trên đầu mình như có 1 vật gì đó làm cho đầu nặng trĩu xuống
- Có người thì vô cớ thấy trong tai như có tiếng gió thổi
- Có người tự nhiên thấy trong tai như có tiếng ve sầu kêu
- Có người tự nhiên nghe thấy trong tai như có tiếng ve sầu kêu
. - Có người lại thấy ngấn thịt dưới mi mắt của mình tự nhiên vô cớ mà cứ máy động và co giật
- Có người thì lại thấy một con mắt của mình tự nhiên cứ dần dần nhỏ lại hoặc đờ đẫn ra
- Có người thì thấy bỗng nhiên như nhìn thấy trước mặt mình có 1 cơn gió xoáy
- Có người thì mỗi khi thở hít, lại thấy trong mũi của mình giống như là hít vào một luồng khí lạnh
- Có người thì thấy môi trên và môi dưới của mình cứ thay nhau co rút lại và co giật một cách khác thường
- Có người tự nhiên thấy rằng khi ngủ là miệng cứ tự nhiên chảy rãi ra mà ko làm sao cầm lại được
- Có người bình thường rất thông minh, chợt bỗng thấy giảm trí nhớ, nói năng ko đầu ko đuôi hàm hồ lẫn lộn
- Có người vô cớ tự nhiên cảm thấy khó thở
- Có người tự nhiên thấy 1 hoặc 2 bên tay của mình bị run
- Có người tự nhiên thấy ngón đeo nhẫn của mình ngày nào cũng có một lúc nào đó bất chợt co lại mà ko làm sao duỗi ra được
- Có người thấy ngón tay cái của của mình vô cớ cứ động đậy
- Có người thấy cánh tay của mình tự nhiên như tê dại đi
- Có người lại thấy một chân của mình bỗng nhiên đờ ra
- Có người tự nhiên thấy da thịt của mình co giật, các kẽ móng tay cứ như có một luồng khí lạnh
- Có người thấy chân mình vô cớ mà cứ như bị chuột rút, đi lại khập khiễng hết sức khó khăn
- Có người thấy vùng quanh cổ chân như ko có sức lực, bàn chân như muốn lật ra ngoài
- Có người lại cảm thấy trong vùng ngực lắm khi như bị cái gì đè nén xuống, cảm thấy gần như nghẹt thở
- Có người thì thấy tim đập nhanh khác thường
- Có người trong khi ngủ bỗng thấy thân thể của mình trở nên nặng nề..v.v...
Tất cả những triệu chứng đó đều là những triệu chứng báo trước rằng nguyên khí trong thân thể đang dần dần bị suy yếu. Nhưng tất cả những triệu chứng đó đều không đau, không ngứa, không nóng, không lạnh, không cản trở tới ăn uống đi lại sinh hoạt nên người ta rất dễ sơ xuất mà bỏ qua.
BÀI THUỐC TRỊ BÁN THÂN BẤT TOẠI ( liệt 1/2 người)
BỔ DƯƠNG HOÀN NGŨ THANG ( tác giả Vương Thanh Nhậm)
Bổ dương hoàn ngũ, Xích thược, Khung
Quy vĩ thông kinh, tá Địa long
Tứ lạng Hoàng kỳ vi chủ dược
Huyết trung ứ trệ dụng Đào, Hồng
Bài thuốc đơn giản chỉ gồm 7 vị thuốc nhưng tác dụng của nó thật kỳ diệu, tôi thường xuyên sử dụng bài thuốc này gia giảm để chữa những chứng bệnh và các triệu chứng đã nêu trong bài viết trước đó, chỉ cần 3-5 thang thuốc là bệnh khỏi, ngoài ra còn dùng để chữa di chứng tai biến não bị liệt 1/2 người rất hay, người nhẹ cũng chỉ cần 3-5 thang thuốc là có thể tự đi lại được, người nặng cũng 10-15 thang thuốc là ổn định. Khi lập ra phương thuốc này cụ có lưu ý: sau khi bệnh đã ổn định thì mỗi tháng uống vài thang thuốc, hoặc mỗi năm vài lần thì suốt đời không lo bệnh tái phát. Tôi đã theo dõi những bệnh nhân mà mình điều trị thì quả đúng như vậy.
Kinh nghiệm của tôi là: ngoài bài thuốc Bổ dương hoàn ngũ ra mọi người nên thường xuyên uống bài thuốc : BÁT TIÊN TRƯỜNG THỌ HOÀN ( Tám vị thuốc có tác dụng như thần tiên, uống lâu sẽ trường thọ).
Bài Thuốc Gồm:
1. Thục địa 32g
2. Sơn thù nhục 16g
3. Sơn dược ( hoài sơn) 16g
4. Đan bì( đơn bì) 12g
5. Trạch tả 12g
6. Phục linh 12g
( đây là nguyên bài Lục vị hoàn gia thêm Mạch môn, Ngũ vị tử nữa)
7. Mạch môn đông 16g
8. Ngũ vị tử 4-6g
Ngoài hai bài thuốc trên thì mọi người nên lưu tâm tới bài LỤC VỊ HOÀN và BÁT VỊ HOÀN ( Bài Lục vị gia thêm Quế nhục ( hoặc Quế chi) và Phụ tử). Lục vị và Bát vị là hai bài thuốc bổ Thận âm ( lục vị) và bổ Thận dương ( bát vị ). Theo lý luận của Đông y thì Thận ( tiên thiên) là gốc của sự sống, Thận sinh tinh ( nam) với nữ thì là noãn và tàng tinh, tinh sinh tủy, tủy sinh huyết ( nuôi dưỡng huyết là tinh hoa của thủy cốc ( cơm ăn, nước uống. hàng ngày) Thận tốt lên thì sự sống được tăng thêm tuổi thọ. như vậy chẳng tốt sao?
Sinh thời cụ Hải Thượng Lãn Ông LÊ HỮU TRÁC rất tâm đắc với hai bài LỤC VỊ và BÁT VỊ ( cụ đã viết trong cuốn Hải Thượng Y Tông Tâm Lĩnh ) cụ gia giảm hai bài thuốc này để ngoài việc bồi bổ Thận còn dùng để chữa hàng trăm chứng bệnh khác nhau.
Vài điều tâm đắc trong quá trình chữa bệnh, mong được trao đổi với bạn bè và đồng nghiệp, chỗ nào chưa chuẩn xin được thỉnh giáo và cảm ơn.
Theo: Thầy Phúc Lâm Đường
BỆNH THẬN: SUY THẬN- VIÊM THẬN- THẬN NHIỄM MỠ
BỆNH THẬN- SUY THẬN- VIÊM CẦU THẬN- THẬN HƯ NHIỄM MỠ
VIÊM CẦU THẬN
KHÁI QUÁT CHUNG
Viêm cầu thận là bệnh đặc trưng bởi tình trạng viêm của các tiểu cầu thận và mạch máu nhỏ trong thận. Bệnh có thể xuất hiện độc lập hoặc kết hợp với hội chứng thận hư. Như ta đã biết thận bao gồm hàng nghìn những đường niệu mạch máu nhỏ. Mỗi một cái như vậy được gọi là một tiểu cầu mạch. Mỗi tiểu cầu này lại nối với một ống gọi là tiểu quản. Mỗi một tiểu cầu nối với tiểu quản sẽ là một ống sinh niệu. Trong mỗi một quả thận có khoảng 1000 ống sinh niệu như vậy. Tiểu cầu thận làm nhiệm vụ lọc máu, mỗi ngày máu đưa tới thận 150 đến 250 lít. Bình thường màng của cầu thận chỉ cho nước và các chất có phân tử lớn thoát khỏi mạch máu: hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu, protein, đường, mỡ... được giữ lại. Sau đó các chất độc hại và nước dư thừa sẽ đi qua tiểu quản và thành nước tiểu. Khi một người bị bệnh về tiểu cầu thận, nghĩa là những tiểu cầu của bệnh nhân không còn hoạt động tốt nữa. Các chất thải độc hại sẽ tích tụ làm cơ thể bị ứ nước; hậu quả là mặt, chân, tay của bệnh nhân sẽ bị sưng phồng. Tế bào cầu thận bong ra và không có khả năng giữ lại các chất như protein, mỡ, bạch cầu, tiểu cầu, hồng cầu. Đây là tiêu chuẩn quan trọng để chẩn đoán là viêm cầu thận.
DẤU HIỆU VIÊM CẦU THẬN
Triệu chứng Viêm cầu thận phụ thuộc vào từng thể bệnh và sự tiến triển cấp hay mạn tính. Các triệu chứng chung có thể bao gồm: nước tiểu sẫm màu, có bọt (do dư thừa protein); tăng huyết áp; phù; mí mắt sưng; mệt mỏi; đau nhức các khớp; thiếu máu; đi tiểu ít hơn bình thường, đau ê ẩm ở vùng thắt lưng đặc biệt là khi ngồi lâu.
PHÂN LOẠI VÀ NGUYÊN NHÂN
- Bệnh mỏng màng đáy cầu thận: Là bệnh di truyền gen trội với biểu hiện lâm sàng là tình trạng đái máu đại thể dai dẳng. Tổn thương được xác định bằng sinh thiết thận và soi trên kính hiển vi điện tử thấy màng đáy cầu thận mỏng hơn bình thường.
- Bệnh cầu thận tiến triển chậm: Viêm cầu thận tổn thương tối thiểu: loại bệnh này chiếm tới 80% hội chứng thận hư ở trẻ em và 20% ở người lớn. Điều may mắn là thể bệnh này đáp ứng điều trị tương đối tốt. Hơn 90% trẻ em khỏi bệnh sau 3 tháng điều trị, tỉ lệ khỏi bệnh ở người lớn là 80%.
- Xơ cứng cầu thận từng ổ, từng đoạn (viêm cầu thận ổ): có thể nguyên phát hay thứ phát trong các bệnh lý như viêm thận ngược dòng (do nhiễm khuẩn ở đường tiết niệu), hội chứng Alport (viêm cầu thận, tổn thương thính giác, thị giác), lạm dụng heroin, HIV. Biểu hiện của bệnh như một hội chứng thận hư với suy thận ở nhiều mức độ, tình trạng xơ cứng chỉ xảy ra ở một số vị trí nhất định. Tổn thương tiến triển chậm dẫn đến suy thận và đáp ứng kém với điều trị corticoid.
- Viêm cầu thận màng: Là thể bệnh hay gặp ở người lớn. Biểu hiện lâm sàng là sự kết hợp triệu chứng của cả viêm cầu thận và hội chứng thận hư. Thường vô căn nhưng cũng có thể kết hợp với một số bệnh như viêm gan, sốt rét, ung thư phổi và ruột. 1/3 số bệnh nhân tiến triển đến suy thận giai đoạn cuối. Điều trị corticoid cũng được sử dụng như một nỗ lực để hạn chế sự tiến triển của bệnh.
- Một số bệnh lý khác gây tổn thương thận: Tăng huyết áp, bệnh thận do tiểu đường. Bệnh tiến triển thường chậm và phụ thuộc vào việc điều trị nguyên nhân gây bệnh. Vì vậy việc xét nghiệm nước tiểu để phát hiện bệnh sớm là rất quan trọng.
- Bệnh thận IgA: Đây là nguyên nhân gây viêm cầu thận hàng đầu ở người lớn, nam mắc nhiều hơn nữ. Đặc thù của bệnh này là sự xuất hiện thường xuyên hồng cầu trong nước tiểu. Triệu chứng thường xuất hiện trong vòng 24 - 48 giờ sau một nhiễm khuẩn đường hô hấp hoặc tiêu hóa. Tổn thương trực tiếp cầu thận do sự lắng đọng IgA trên màng đáy. Tiên lượng bệnh rất khác nhau, khoảng 20% bệnh nhân sẽ tiến triển đến suy thận giai đoạn cuối.
- Viêm cầu thận sau nhiễm khuẩn: Có thể xảy ra với nhiều loại nhiễm khuẩn, nhưng nguyên nhân hay gặp nhất là sau nhiễm liên cầu nhóm D, đặc biệt là Streptoccocus pyogenes. Bệnh xuất hiện sau các nhiễm khuẩn hô hấp, nhiễm khuẩn da khoảng 10 - 14 ngày. Chẩn đoán dựa vào việc khai thác tiền sử nhiễm liên cầu trước đó. Các test huyết thanh chẩn đoán liên cầu rất hữu ích để cung cấp thêm bằng chứng. Sinh thiết thận hiếm khi được đặt ra. Được điều trị đúng cách, bệnh thường tiến triển tốt và khỏi bệnh trong 2 - 4 tuần.
- Viêm cầu thận tăng sinh màng/viêm cầu thận tăng sinh gian mạch: Bệnh có thể tiên phát hoặc thứ phát sau lupus ban đỏ, viêm gan virut. Người ta nhận thấy các tiểu cầu thận có hiện tượng tăng sinh tế bào bất thường cả ở màng đáy, mao mạch và khoảng gian mạch. Biểu hiện bằng tình trạng thận hư, viêm thận và tiến triển đến suy thận giai đoạn cuối là điều không tránh khỏi.
- Viêm cầu thận tiến triển nhanh: Thể bệnh này có tiên lượng xấu. Bệnh tiến triển nhanh chóng đến suy thận giai đoạn cuối trong vòng vài tuần. Corticoid có thể được sử dụng nhưng hiệu quả không thực sự rõ ràng. Bao gồm các nguyên nhân sau: Viêm cầu thận tế bào hình liềm (tổn thương cầu thận kết hợp với viêm thận kẽ. Bệnh xuất hiện sau viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn. Chụp Immunofluorescen cho thấy hình ảnh những tế bào hình liềm xuất hiện cả ở tiểu cầu và khoảng gian mạch. Hội chứng goodpasture (một loại bệnh tự miễn dịch). Người ta phát hiện kháng thể kháng màng đáy ở thận và phổi. Vì thế biểu hiện lâm sàng của bệnh ngoài triệu chứng của viêm cầu thận còn có triệu chứng của tổn thương phổi như ho ra máu; Các bệnh lý tổn thương mạch máu (điển hình là viêm nhiều động mạch (polyartritis) và U hạt Wegener. Chẩn đoán dựa vào sự xuất hiện kháng thể kháng tế bào chất của bạch cầu trong máu).
- Viêm cầu thận mãn là một hội chứng bao gồm: Tiểu ra máu và tiểu ra chất đạm kéo dài.Chức năng của thận bị suy giảm từ từ. Nguyên nhân của suy thận mãn có thể do bị mắc bệnh viêm cầu thận cấp lúc 8 tuổi và tiến triển dần đến viêm cầu thận mãn. Thông thường viêm cầu thận mãn tiến triển âm thầm, bệnh nhân có thể được phát hiện tình cờ qua khám sức khoẻ định kỳ hoặc do một bệnh khác, thử nước tiểu thấy có đạm, có máu, đo huyết áp thấy tăng. Nặng hơn bệnh nhân có thể nhập viện vì hội chứng suy thận mãn như: tăng huyết áp, phù, thiếu máu, đo lượng uré trong máu thấy cao. Ngoài ra viêm cầu thận mãn thường xảy ra sau một đợt cấp của bệnh nhân đã có viêm cầu thận mãn.
ĐIỀU TRỊ
- Kiểm soát huyết áp ổn định tốt, làm giảm lượng đạm trong nước tiểu, làm việc nhẹ.
- Tránh bị nhiễm trùng như giữ vệ sinh sạch sẽ, mang khẩu trang khi ra đường, giữ ấm khi trời lạnh…
- Tránh dùng các thuốc độc cho thận như kháng sinh họ Aminoglycosides (như Gentamycine, Steptomycine…), kháng viêm không phải corticoid (như Iboprofen, Diclofenac…).
- Nếu đã dẫn đến suy thận giai đoạn cuối thì phải chạy thận nhân tạo, ghép thận.

Comments

Popular posts from this blog

Lục Vị Hoàn và Bát Vị Hoàn Bài Thuốc Bổ Thận Âm và Thận Dương

CHỮA SỎI THẬN VÀ SỎI MẬT VÀ SỎI BÀNG QUANG

CAO TIÊU ĐỘC, SÁT TRÙNG, TAN NHỌT Lịch sử bài thuốc: Gia truyền 3 đời. Bản thân đã áp dụng trên 20 năm.