Phương “Kim quỹ thận khí hoàn” của Thánh y Trương Trọng Cảnh.
Phương “Kim quỹ thận khí hoàn” của
Thánh y Trương Trọng Cảnh.
Vào thời Đông Hán (năm 25 - 220 sau Công Nguyên, còn gọi là thời Hậu Hán), Thánh y Trương Trọng Cảnh (các thầy thuốc về sau đều gọi là Tôn Sư, tôn ông là Thầy, vì công lao trước tác của ông để lại cho hậu thế quá lớn. Trong Đông y tôn ông là Y Thánh) đã lập ra phương Bát vị thận khí hoàn (còn gọi là Kim quỹ thận khí hoàn, Quế phụ địa hoàng hoàn, để phân biệt với Tế sinh thận khí hoàn). Cho tới ngày nay phương thuốc này vẫn được trọng dụng.
Phương thuốc gồm:
Can địa
hoàng (Sinh địa) 32g,
Sơn dược 16g,
Sơn thù (sao rượu) 16g,
Phục linh 12g,
Trạch tả 12g,
Đan bì 12g,
Quế chi 8g,
Phụ tử (chế) 8g.
Toàn phương có công năng chủ trị các chứng thận dương bất túc. Lưng là phủ của Thận, Thận là gốc của Tiên thiên, trong đó ẩn chứa Mệnh môn hỏa. Nơi động khí của Thận chính là Mệnh môn.
Nạn thứ 8 sách Nạn Kinh có chép: “Đây là rễ của
mười hai kinh mạch, là cửa của hô hấp, là nguồn của tam tiêu”. Đàm ẩm, thủy
thũng, cước khí, chuyển bào (phụ nữ có thai bí tiểu (dùng cẩn thận)).
Lưng đau
chân mỏi, từ nửa thân trở xuống thường lạnh giá, bụng dưới đau co thắt, tiểu
tiện không thông,
hoặc tiện nhiều lần, về đêm càng tiểu nhiều, dương nuy (liệt
dương), tảo tiết (xuất tinh sớm). Lưỡi nhạt mà nhớt, mạch hư nhược. Bộ xích
trầm tế.
Comments
Post a Comment